AIPhapLuat.comAI Pháp Luật
Hôn nhân, gia đình và thừa kế

Hàng thừa kế và chia thừa kế theo pháp luật: ai được hưởng khi không có di chúc

Ba hàng thừa kế theo pháp luật, nguyên tắc chia đều trong một hàng, thừa kế thế vị, con riêng và con nuôi, thời hiệu yêu cầu chia di sản và cách họp gia đình chia.

Three adult siblings sitting on low plastic stools around a tea tray in the courtyard of a family house in Thanh Hóa, seen from behind at a distance, overcast soft light

Khi người mất không để lại di chúc, hoặc di chúc không hợp pháp, di sản được chia theo pháp luật cho ba hàng thừa kế theo thứ tự. Hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người mất. Những người cùng hàng hưởng phần bằng nhau; hàng sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước.

Nguyên tắc nghe đơn giản, nhưng trong thực tế mỗi gia đình có những chi tiết làm rối: con mất trước cha mẹ, con riêng, con nuôi chưa đăng ký, người đã ra nước ngoài, người từ chối. Bài viết giải thích theo nguyên lý Bộ luật Dân sự để bạn tự vẽ được sơ đồ gia đình mình; trước khi làm thủ tục, kiểm văn bản hiện hành.

Ba hàng thừa kế theo pháp luật

Bảng dưới ghi thành phần mỗi hàng theo nguyên lý của Bộ luật Dân sự. Từ "người mất" ở đây là người để lại di sản.

HàngGồm những aiĐược hưởng khi nào
Thứ nhấtVợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người mấtLuôn được xét đầu tiên
Thứ haiÔng bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người mất; cháu ruột mà người mất là ông, bà nội hoặc ngoạiKhi không còn ai ở hàng thứ nhất, do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận
Thứ baCụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột của người mất; cháu ruột mà người mất là bác, chú, cậu, cô, dì ruột; chắt ruột mà người mất là cụKhi không còn ai ở hai hàng trước

Điều hay bị hiểu nhầm: anh chị em ruột không được chia nếu người mất còn vợ, con hoặc cha mẹ. Nhiều gia đình vẫn chia theo kiểu "của bố mẹ để lại thì anh em cùng có phần", nhưng đó là khi người mất là cha mẹ, còn khi người mất là một người anh đã có vợ con thì phần di sản của anh thuộc hàng thứ nhất của anh.

Những chi tiết làm thay đổi cách chia

Chia đều trong hàng. Những người cùng hàng hưởng phần bằng nhau, không phân biệt con trai con gái, con trưởng con út, con ở gần hay ở xa. Việc ai chăm cha mẹ nhiều hơn không tự động làm tăng phần theo pháp luật, nhưng các anh chị em có thể thoả thuận khác, hoặc công sức quản lý, tôn tạo di sản có thể được xem xét riêng.

Thừa kế thế vị. Nếu con của người mất đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người mất, thì cháu được hưởng phần mà cha hoặc mẹ của cháu lẽ ra được hưởng. Nếu cháu cũng đã chết trước, chắt được hưởng. Ví dụ giả định: ông mất, có ba người con, một người đã mất trước và để lại hai con; hai cháu này cùng chia phần một suất của cha mình.

Con riêng và cha dượng, mẹ kế. Con riêng của vợ hoặc chồng và cha dượng, mẹ kế được thừa kế di sản của nhau nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Không có quan hệ đó thì không tự động thừa kế.

Con nuôi phải đúng thủ tục. Con nuôi ở hàng thứ nhất là con nuôi được đăng ký hợp pháp. Nhận nuôi theo kiểu "đem về nuôi từ nhỏ" mà chưa từng làm thủ tục có thể phải chứng minh thêm hoặc không được coi là con nuôi theo luật.

Người không được quyền hưởng. Luật loại trừ một số người như người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người đó; người lừa dối, cưỡng ép, giả mạo di chúc. Ngoại lệ là khi người để lại di sản đã biết mà vẫn cho họ hưởng theo di chúc.

Xác định đúng di sản trước khi chia

Trước khi hỏi chia cho ai, phải trả lời được câu "chia cái gì". Di sản là tài sản riêng của người mất và phần của người mất trong tài sản chung với người khác. Với người có vợ hoặc chồng, căn nhà là tài sản chung thì thường phải tách phần của người còn sống trước, phần còn lại mới là di sản. Người vợ còn sống vì thế vừa có phần tài sản chung của mình, vừa có một suất thừa kế ở hàng thứ nhất.

Di sản cũng phải trừ đi các nghĩa vụ người mất để lại: khoản nợ, chi phí mai táng hợp lý, nghĩa vụ cấp dưỡng còn thiếu. Người thừa kế trả các khoản này trong phạm vi di sản nhận được, không phải lấy tiền túi bù vào nếu di sản không đủ.

Ví dụ giả định: ông bà có căn nhà chung, ông mất không di chúc, có bà và ba người con. Nửa căn nhà là của bà. Nửa còn lại là di sản của ông, chia đều cho bốn người ở hàng thứ nhất: bà và ba con, mỗi người một phần tư của nửa đó. Kết quả bà có năm phần tám căn nhà, mỗi con một phần tám. Đây là phép tính minh hoạ; thực tế còn phải trừ nghĩa vụ và tính cha mẹ của ông nếu họ còn sống.

Họp gia đình chia thừa kế: các bước nên đi

Phần lớn di sản ở Việt Nam được chia bằng thoả thuận trong gia đình, không qua toà. Một cuộc chia đàng hoàng thường đi theo trình tự:

  1. Vẽ sơ đồ gia đình của người mất: vợ hoặc chồng, cha mẹ, các con, con đã mất trước và con của họ. Ghi rõ ai còn sống, ai ở xa.
  2. Liệt kê di sản và nghĩa vụ: nhà đất, tiền gửi, xe, phần vốn góp, các khoản nợ. Gom giấy tờ gốc về một chỗ.
  3. Xác định ai muốn nhận, ai muốn nhường phần, ai muốn từ chối. Người từ chối phải lập văn bản đúng thủ tục và đúng thời điểm.
  4. Thống nhất phương án: chia hiện vật, bán chia tiền, hay một người nhận nhà và trả tiền cho người khác.
  5. Lập văn bản thoả thuận phân chia di sản hoặc văn bản khai nhận di sản tại tổ chức hành nghề công chứng; người ở xa có thể uỷ quyền.
  6. Làm thủ tục đăng ký sang tên với nhà đất, xe, tài khoản theo văn bản đã công chứng.

Nếu không thoả thuận được, bất kỳ người thừa kế nào cũng có quyền yêu cầu toà chia. Trước khi ra toà, hoà giải ở cơ sở hoặc nhờ người có uy tín trong họ hàng làm trung gian thường giữ được tình thân tốt hơn.

Khi trong số người thừa kế có trẻ em hoặc người mất năng lực

Gia đình thường bỏ qua chi tiết này cho đến lúc ra công chứng mới bị hỏi. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự vẫn có đầy đủ quyền thừa kế, nhưng không tự mình ký các văn bản được. Những điểm cần biết:

  • Người đại diện theo pháp luật, thường là cha hoặc mẹ còn sống, hoặc người giám hộ, sẽ thay mặt đứa trẻ tham gia việc phân chia.
  • Người đại diện không được thoả thuận làm thiệt phần của đứa trẻ. Một văn bản trong đó cháu nhỏ "nhường" hết phần cho cô chú có thể không được công chứng hoặc bị tuyên vô hiệu về sau.
  • Khi người đại diện cũng là một người thừa kế, quyền lợi hai bên có thể xung đột; trường hợp này công chứng viên sẽ xem xét kỹ, có khi cần thêm người giám sát việc giám hộ theo quy định.
  • Phần di sản của trẻ có thể được giữ dưới dạng phần sở hữu trong nhà đất chung, hoặc tiền gửi đứng tên trẻ, do người đại diện quản lý vì lợi ích của trẻ.
  • Khi trẻ đến tuổi thành niên, trẻ có quyền tự quyết với phần của mình, và có quyền hỏi lại việc quản lý trước đó.

Nếu gia đình có trường hợp này, hãy nói rõ với nơi công chứng ngay từ đầu để chuẩn bị đúng giấy tờ, tránh phải làm lại.

Thời hiệu: đừng để di sản nằm im quá lâu

Bộ luật Dân sự hiện hành đặt ra thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản: ba mươi năm với bất động sản và mười năm với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế, tức lúc người để lại di sản qua đời. Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý nó, hoặc được xử lý theo các quy định khác của luật.

Ngoài ra còn những thời hiệu riêng cho các yêu cầu khác, như yêu cầu xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế của người khác, hay yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người mất. Mỗi loại một thời hạn riêng, nên khi gia đình có chuyện chưa giải quyết, hãy kiểm ngay thay vì đợi.

Trong thực tế, nhiều căn nhà ở quê đứng tên ông bà đã mất mấy chục năm, con cháu cùng ở mà chưa ai làm thủ tục. Càng để lâu, số người thừa kế càng nhiều vì có thêm thế hệ, giấy tờ càng thất lạc, người biết chuyện càng ít. Việc ngồi lại chia sớm, kể cả khi quyết định giữ chung, giúp con cháu sau này đỡ rất nhiều công.

Dùng AI vẽ sơ đồ thừa kế, rồi kiểm lại bằng tay

AI làm tốt việc biến một mô tả gia đình lộn xộn thành sơ đồ hàng thừa kế. Câu lệnh mẫu: "Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành, người mất là A, không có di chúc. Còn sống: vợ B, mẹ C, con D và E. Con F đã mất trước A, để lại hai con G và H. Liệt kê những ai ở hàng thừa kế thứ nhất, ai hưởng thế vị, mỗi người được bao nhiêu phần của di sản. Giải thích từng bước tính." Bạn dùng chữ cái thay tên người, không ghi địa chỉ hay số giấy chứng nhận.

Kiểm lại ba chỗ AI hay nhầm: quên tính cha mẹ của người mất còn sống, chia cho anh chị em ruột khi hàng thứ nhất vẫn còn người, và quên tách phần tài sản chung của vợ hoặc chồng còn sống trước khi chia. Tự làm lại phép chia bằng tay để chắc.

Khi có người không đồng ý, có tài sản ở nhiều nơi, có người thừa kế ở nước ngoài, bạn nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn (aicovan.com). Phần mua bán, sang tên nhà đất sau khi nhận thừa kế có ở trang AI Bất Động Sản.

Câu hỏi thường gặp

Con gái đã đi lấy chồng có được chia thừa kế của cha mẹ không?

Có. Con đẻ ở hàng thừa kế thứ nhất, không phân biệt con trai, con gái, đã có gia đình hay chưa, sống gần hay xa. Quan niệm con gái đi lấy chồng thì không có phần chỉ là tập quán, không phải quy định pháp luật.

Cháu nội có được hưởng thừa kế của ông bà không?

Cháu chỉ hưởng khi cha hoặc mẹ của cháu, tức con của ông bà, đã mất trước hoặc cùng lúc với ông bà; khi đó cháu hưởng thế vị phần của cha mẹ mình. Nếu cha mẹ cháu còn sống, phần thuộc về họ chứ không chia trực tiếp cho cháu.

Vợ sau của cha có được chia thừa kế cùng các con của vợ trước không?

Nếu là vợ hợp pháp tại thời điểm người cha mất, người vợ sau ở hàng thừa kế thứ nhất cùng các con. Phần tài sản chung của người vợ sau với người cha được tách ra trước, rồi phần di sản còn lại mới chia cho các người thừa kế.

Một người giữ hết giấy tờ, không chịu chia thì làm thế nào?

Trước hết thương lượng, nhờ người có uy tín hoặc hoà giải ở cơ sở. Không được thì người thừa kế có quyền yêu cầu toà chia di sản. Người đang giữ giấy tờ không vì thế mà có thêm quyền; toà có thể yêu cầu xuất trình tài liệu khi giải quyết.

Người thừa kế ở nước ngoài có cần về Việt Nam để ký không?

Không nhất thiết. Người ở nước ngoài có thể lập văn bản uỷ quyền hoặc văn bản thoả thuận tại cơ quan đại diện Việt Nam hoặc theo thủ tục hợp pháp hoá phù hợp. Cách làm cụ thể tuỳ nước sở tại và quy định hiện hành, nên hỏi trước nơi công chứng tại Việt Nam.

Đất ông bà để lại đã mấy chục năm có còn chia được không?

Còn tuỳ thời điểm mở thừa kế và tình trạng quản lý di sản. Thời hiệu yêu cầu chia bất động sản theo luật hiện hành là ba mươi năm, nhưng các trường hợp mở thừa kế từ lâu có thể chịu quy định chuyển tiếp. Nên mang đủ giấy tờ hỏi người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138